[ Kiến Thức Nông Nghiệp ]

Quy trình kỹ thuật trồng mít – Cẩm nang cây trồng

Chia sẻ của kỹ sư nông nghiệp về quy trình kỹ thuật trồng mít, bao gồm: Yêu cầu về hệ sinh thái, giống và kỹ thuật nhân giống; Trồng và chăm sóc, Lượng phân bón và cách phòng chống sâu bệnh phù hợp. Theo dõi chia sẻ từ kỹ sư nông nghiệp tại TTP Global:

 

I. YÊU CẦU VỀ SINH THÁI

1. Nhiệt độ, độ ẩm

  • Nhiệt độ thích hợp cho cây mít sinh trưởng và phát triển là 20 – 32oC
  • Độ ẩm tương đối thích hợp từ 70 – 75%, độ ẩm chủ yếu tác động vào thời kỳ ra hoa, đậu quả, các giai đoạn khác ít ảnh hưởng.

2. Lượng mưa

Mít có bộ rễ ăn sâu, chịu hạn tốt, có thể chịu được khô hạn 03 – 04 tháng, nhưng để có năng suất cao nên trồng mít ở những vùng có lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.000 – 2.000 mm, ngược lại mít chịu úng kém.

3. Ánh sáng

Mít là cây ưa sáng, thờ gian chiếu sáng từ 2.000 – 2.500 giờ/năm phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển.

4. Đất đai

Mít là cây dễ tính, có thể phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, gồm: Đất đỏ bazan, phù sa, đất xám, đất đồi núi… Tuy nhiên, đất trồng mít phải thoát nước tốt, có tầng canh tác sâu, mít chịu úng kém, ở các vùng đất thấp, khi trồng phải lên líp.

Độ pH đất thích hợp cho trồng mít là 5 – 7,5.

II. GIỐNG VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG

1. Giống

Hiện ở Đồng Nai có nhiều giống mít cho năng suất cao như mít Viên Linh, mít Thái, mít nghệ, mít tố nữ,… Song, nông dân nên trồng giống mít được tuyển chọn qua các cuộc thi trái cây ngon, giống tốt hoặc những giống mít trong nước có phẩm chất ngon được nhiều người ưa chuộng, đồng thời thích hợp để chế biến, sấy khô đóng gói xuất khẩu.

2. Kỹ thuật nhân giống

2.1 Nhân giống bằng hạt

Ưu điểm:

  • Nhân giống bằng hạt dễ làm
  • Cây con mọc khỏe, tuổi thọ dài.
  • Một số bệnh không truyền qua hột.

Nhược điểm:

  • Cây bị lai giống do mít thụ phấn chéo, không giữ nguyên được phẩm chất của cây mẹ.
  • Lâu cho quả phải mất khoảng 04 – 08 năm cây mới cho quả đầu tiên.
  • Cây có rễ cọc, khi bứng dễ gây chết cây.
  • Gieo ươm bằng hạt có thể sử dụng các phương pháp sau: Gieo ươm trong các loại bầu có vỏ sẵn.

2.2 Nhân giống bằng phương pháp chiết

Chiết cành: Mùa chiết thường là mùa mưa, cành chiết được chọn trên những cây còn trẻ (khoảng 18 – 24 tháng tuổi), đã hóa gỗ, đường kính cành chỗ bó phải được 1 cm trở lên. Khoanh vỏ bóc đi rộng 4 – 5 cm.

Cạo tầng sinh gỗ dưới vỏ để khô 01 – 02 ngày rồi dùng rơm hoặc xơ dừa, bó quanh nơi đã bóc vỏ. Dùng bọc nilon bó lại và dùng dây buộc chặt lại.

  • Nếu có chất kích thích sinh trưởng, bôi vào miệng vết cắt, phía trên, nơi rễ sẽ đâm ra thì tỷ lệ sống có thể lên đến 100%, rễ ra vừa nhanh vừa nhiều.
  • Không có chất kích thích, rễ ra chậm, tỷ lệ sống thấp hơn.
  • Khoảng 70 – 80 ngày sau khi rễ đã xuất hiện phía ngoài bầu chiết thì bắt đầu đem trồng vào vườn giâm hoặc vào chậu, vào túi nilon để ở chỗ râm mát.
  • Chú ý tưới nước thường xuyên để giữ ẩm. Khoảng 01 – 02 tháng sau, khi đã có rễ thứ sinh thì có thể đem trồng ra vườn.

2.3 Nhân giống bằng phương pháp ghép

Ghép áp cành: Chọn gốc ghép độ sáu tháng tuổi dùng dao vát chéo hai bên rồi nêm xiên vào tược của các giống mít ngon, cột dây lại. Sau ba tháng thì cắt rời khỏi cây mẹ, dưỡng một tháng nữa rồi đem trồng.

Ghép mắt: Mở cửa sổ, bóc bỏ mảnh gỗ dính với mắt. Nên lấy mắt ở cành già, ít nhất trên mười hai tháng tuổi, thời gian ghép tốt nhất vào tháng 11 – 12 dương lịch.

  • Ưu điểm: Nhân giống nhanh, cho nhiều cây con trong một thời gian ngắn mà ảnh hưởng ít tới cây mẹ. Cây con giữ được đặc tính tốt của cây mẹ; chọn được gốc ghép chống chịu sâu bệnh tốt.
  • Nhược điểm: Thợ ghép phải được huấn luyện. Đôi khi virus truyền qua đường ghép như gỗ ghép, gốc ghép, dao ghép.

III. TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Thời vụ

Nên trồng mít vào đầu mùa mưa (tháng 4, 5) vì cây con cần nhiều nước trong giai đoạn đầu, nếu trồng cuối mùa mưa thì phải có nước tưới trong mùa khô.

2. Chuẩn bị hố trồng

Nếu đất trồng có độ dốc thấp nên đào hố trồng có kích thước 40 x 40 x 40 cm, trường hợp đất có độ dốc hơi cao đào hố 40 x 40 x 60 cm (sâu 60 cm).

Tùy theo địa hình của đất cao hay thấp để đào mương thoát nước cho phù hợp nên đào mương phụ rộng và sâu từ 0,3 – 0,4 m, mương chính đào rộng và sâu khoảng 0,5 – 0,7 m.

3. Khoảng cách – mật độ

Mít là cây ưa sáng, cần nhiều ánh sáng cho cây sinh trưởng và phát triển, kháng sâu bệnh, do đó trồng khoảng cách 7 m x 7 m, mật độ 200 cây.

Đất cằn cỗi nên trồng dày, đất tốt nên trồng thưa.

4. Cách trồng

Dùng cuốc đào một lỗ nhỏ thẳng đứng từ trên xuống dưới và bóc túi nilon ra. Sau đó vun đất vào gốc và ấn nhẹ xung quanh.

Đất có độ dốc thấp trồng mặt bầu ngang với mặt đất, đất có độ dốc cao trồng mặt bầu thấp hơn mặt đất từ 20 – 30 cm. Sau đó cắm cọc để cố định cây con, nếu đất khô phải tưới và ủ ẩm cho cây.

5. Phân bón

5.1 Bón lót

  • Trước khi trồng bón lót mỗi hố 10 – 20 kg phân chuồng.
  • Hoặc 300g – 400 Humic K Bio phân hữu cơ vi sinh với 0,5 kg lân; 0,5 kg vôi bột; 30g HUMIK WSG.

5.2 Bón thúc

5.2.1 Giai đoạn kiến thiết cơ bản (năm 1 đến năm 3):

Lượng phân bón/1 ha:

NămUrê (kg)Lân super (kg)Kali clorua (kg)Vôi (kg)Hữu cơ vi sinh Humic K Bio (kg)
175200602002
275200603003
31002001005004

Số lần bón:

  • Lần 1: Vào đầu mùa mưa: 50% lượng phân đạm và kali kết hợp 100% hữu cơ, vôi và lân.
  • Lần 2: Vào cuối mùa mưa: Bón lượng còn lại.

Cách bón:

  • Bón cách cây 30 – 50 cm.
  • Khi cây có tán bón theo hình rãnh của hình chiếu tán hoặc cuốc 04 hốc theo hình chiếu tán sâu 20 – 30 cm.
5.2.2 Giai đoạn kinh doanh (từ năm thứ 4 trở đi)

Lượng phân bón/1 ha:  

NămUrê (kg)Lân super (kg)Kali sulphat (kg)Vôi (kg)Hữu cơ vi sinh Humic K Bio (kg)
43004002505005
53505003507007
64006004508008
Từ năm thứ 7 trở đi4507005001.00010

Số lần bón:

  • Lần 1 (ngay sau khi kết thúc thu hoạch trái vụ trước): kết hợp với tạo tán tỉa cành và sửa bồn vun xới gốc. Bón 100% phân hữu cơ kết hợp 50% phân lân để phục hồi bộ rễ và bón vôi.
  • Lần 2 (trước khi ra hoa): 25% đạm + 20% lân + 30% kali nhằm mục đích kích thích hình thành mầm hoa.
  • Lần 3 (khi mới đậu trái): 40% đạm + 15% lân + 30% kali.
  • Lần 4 (trước thu hoạch lứa trái đầu khoảng 30 ngày): 35% đạm + 15% lân + 40% kali.

Cách bón:

  • Bón cuốc rãnh theo hình chiếu tán hoặc cuốc 04 hốc theo hình chiếu xung quanh tán, sâu 20 – 30 cm.

Sử dụng phân bón lá:

  • Định kỳ sử dụng các loại phân bón lá để giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt.
  • Dùng định kỳ 30-45 ngày, 20g HUMIK WSG + 20g Fulvic + 30ml Ful-grow gold 2x/25 lít nước phun ướt đều tán cây.
  • Giúp cây sinh trưởng tốt, ra rễ nhanh mạnh.

6. Tưới nước

Nếu trồng trong mùa khô phải tưới nước thường xuyên từ 02 – 03 ngày ít nhất trong một tháng đầu. Trồng trong mùa mưa, nếu trời không mưa phải để ý đến việc tưới nước. Cây mít khi còn nhỏ nếu thiếu nước cây sẽ chết. Ngược lại, trong mùa mưa nếu đất xung quanh gốc cây bị ẩm đọng nước cây con cũng bị chết vì bộ rễ thiếu dưỡng khí và thối rễ.

Nếu có điều kiện nên lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm và bón phân qua đường ống sẽ giảm nhiều công tưới, bón phân hóa học, trong khi năng suất chất lượng trái tăng cao.

7. Trồng cây che phủ

Xen canh trong những năm đầu khi cây chưa giao tán. Tùy điều kiện thâm canh có thể trồng xen canh với các loại cây khác như cây cà phê hoặc cây hoa màu trong những năm đầu. Tuy nhiên cần phải chú ý để cho cây mít được thông thoáng và hấp thụ được từ 80 – 90% ánh sáng tự nhiên. Cỏ cũng có thể được dùng che phủ mặt đất tăng thêm chất hữu cơ cho đất.

8. Tỉa cành tạo tán

Chỉ tỉa cành tạo tán khi cây mít đạt chiều cao từ 01 mét trở lên, khi cây chưa có trái tỉa cành 02 – 03 lần/năm. Cây đã cho trái tỉa cành 01 năm/lần vào thời điểm thu hoạch trái xong.

Cắt bỏ các cành gần sát mặt đất, cành tược, cành nhỏ mọc không đúng hướng, cành sâu bệnh. Giữ lại cành cấp 1 cách gốc khoảng 40 cm trở lên. Chọn các cành mọc theo các hướng khác nhau, cành trên cách cành dưới khoảng 40 – 50 cm, tạo thành tầng không quá 05 cành cấp 1. Tỉa bỏ bớt cành cấp 2, cấp 3 cho cây thoáng nhằm tránh sâu bệnh và tăng năng suất.

IV. PHÒNG CHỐNG SÂU BỆNH HẠI CHÍNH

Ưu tiên áp dụng phòng chống tổng hợp sâu bệnh hại trên cây mít:

  • Sau thu hoạch, xới xáo xung quanh gốc để diệt trứng, nhộng sâu hại.
  • Cắt tỉa cành vô hiệu, bị che khuất để dễ kiểm soát côn trùng.
  • Bao trái nhằm tránh côn trùng gây hại.
  • Bảo vệ thiên địch và vi sinh vật có ích để phòng chống sâu bệnh hại.
  • Khi sử dụng thuốc BVTV phải tuân thủ nguyên tắc “4 đúng”, ưu tiên thuốc có nguồn gốc sinh học để quản lý sâu bệnh hại.

1. Sâu hại

Một số sâu hại chủ yếu trên cây mít: Bọ cánh cam, rệp phấn, sâu đục quả…

1.1 Bọ cánh cam (bọ hung xanh – Anomala cupripes)

Nhận dạng
  • Bọ trưởng thành thân dài 20 – 22 mm, mặt lưng màu xanh đậm. Đầu, lưng, ngực trước và cánh cứng có nhiều chấm đen. Bụng màu hơi tím, chân màu thẫm, đốt đùi chân sau có nhiều lông. Râu đầu ngắn hình lá lợp.
  • Trứng hình bầu dục, dài 2 – 3 mm, màu trắng sữa. Sâu non mới nở có màu trắng, khi đẫy sức màu vàng nhạt, đầu màu đỏ nhạt. Đốt bụng thứ 10 ở chính giữa có 02 hàng lông rất nhỏ, lỗ thở tròn. Sâu non đẫy sức dài 40 – 45 mm, khi nằm yên mình có hình chữ C.
  • Nhộng hình thoi, dài 22 – 25 mm, màu nâu vàng, lỗ thở hình bầu dục, đoạn cuối đốt đuôi tròn và nhô ra.
Tập quán sinh sống và cách gây hại
  • Bọ trưởng thành hoạt động mạnh vào chập tối, thích ánh sáng đèn. Đẻ trứng rải rác từng quả trên đất, mỗi con cái đẻ trung bình 50 – 70 quả trứng. Sâu non sống trong đất, ăn xác cây mục nát và rễ cây. Bọ trưởng thành ban đêm ăn lá cây, mật độ cao có thể làm lá cây xơ xác, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, nhất là giai đoạn cây còn nhỏ.
  • Vòng đời từ 05 – 07 tháng, trong đó thời gian trứng 15 – 20 ngày, sâu non 100 – 150 ngày, nhộng 15 – 20 ngày, bọ trưởng thành sống 02 – 03 tháng.
Biện pháp phòng chống
  • Chập tối dùng tay hoặc vợt bắt sâu trưởng thành.
  • Có thể sử dụng các thuốc dạng hạt được phép sử dụng trên cây ăn quả (có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam) để rải vào gốc cây.

1.2 Rệp phấn (Planococcus lilacinus)

Nhận dạng
  • Rệp trưởng thành cái có màu vàng, cơ thể thon tròn, dài 2,5 – 4,0 mm; rìa mỗi bên cơ thể có 18 sợi tua trắng. Cơ thể  phủ đầy một lớp bột sáp trắng như phấn, chân phát triển. Rệp sáp trưởng thành đực có một đôi cánh mỏng, cơ thể dài khoảng 1 mm màu xám nhạt.
  • Con cái đẻ trứng thành bọc, bên ngoài có lớp sáp trắng bao phủ, bên trong chứa vài chục trứng. Rệp non mới nở màu hồng, hình bầu dục, di chuyển nhanh đến chỗ thích hợp sống cố định và tiết sáp trên cơ thể.
  • Rệp cái có 03 giai đoạn phát dục là trứng, rệp non và trưởng thành. Rệp đực thêm giai đoạn nhộng.
Tập quán sinh sống và cách gây hại
  • Rệp trưởng thành và rệp non tập trung thành từng đám ở mặt dưới lá và cuống quả hút nhựa làm cho lá biến vàng, quả còn nhỏ phát triển kém. Chỗ có rệp thường có nấm bồ hóng phát triển. Rệp gây hại nặng vào những tháng mùa khô, nắng nóng.
  • Vòng đời trung bình 25 – 30 ngày.
Biện pháp phòng chống
  • Dùng vòi nước cao áp rửa sạch rệp phấn khỏi trái.
  • Tỉa và tiêu hủy các trái kém phát triển và nhiễm rệp nặng.
  • Khi rệp nhiều có thể sử dụng các loại thuốc được phép sử dụng trên cây ăn quả (có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam) như: Hoạt chất Abamectin; Emamectin benzoate để phòng chống. Liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên nhãn. Khi cây mang trái sử dụng thuốc phải đảm bảo thời gian cách ly.

1.3 Sâu đục quả (Glyphodes caesalis)

Nhận dạng
  • Sâu trưởng thành là loài bướm nhỏ, thân dài 12 mm, sải cánh rộng 24 mm, màu vàng, cánh trước và cánh sau có những vạch màu nâu sặc sỡ.
  • Sâu non màu trắng, trên cơ thể có những chấm màu nâu đen, đầu màu vàng nâu, đẫy sức dài 18 – 20 mm. Nhộng màu nâu nhạt.
Tập quán sinh sống và cách gây hại

Bướm hoạt động vào ban đêm, đẻ trứng rải rác trên vỏ quả mít từ khi quả còn non. Sâu non đục vào trong quả, ăn phần thịt dưới vỏ. Bên ngoài lỗ đục có phân thải ra từng đám màu đen. Quả bị hại vẫn phát triển, tuy nhiên chỗ vết sâu đục thường bị thối, làm giảm giá trị của quả. Sau khi đẫy sức, sâu non chui ra ngoài quả, kéo tơ kết phân khô thành kén rồi hóa nhộng trong đó.

Biện pháp phòng chống
  • Nhặt bỏ tiêu hủy các quả bị sâu hại từ khi còn nhỏ.
  • Có thể sử dụng các loại thuốc được phép sử dụng trên cây ăn quả (có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam) chứa hoạt chất Trichlorfon; Dimethoate, Carbaryl, Emamectin benzoate phòng chống… liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên nhãn.

2. Bệnh hại

2.1 Bệnh đốm nâu (do nấm Phomopsis artocarpina)

Triệu chứng

Bệnh hại chủ yếu trên lá. Vết bệnh hình tròn, lúc đầu nhỏ, màu nâu, sau lớn lên đường kính từ 10 – 15 mm, ở giữa màu xám tro, trên đó có những hạt nhỏ màu đen xếp thành các đường vòng đồng tâm, đó là các ổ bào tử.

Điều kiện phát sinh phát triển
  • Nấm hình thành 02 loại phân sinh bào tử. Một phân sinh bào tử hình bầu dục, đơn bào, không màu. Một loại phân sinh bào tử hình sợi ngắn, một đầu hơi cong, đơn bào, không màu.
  • Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25 – 28oC, chết ở 51oC trong 10 phút. Nấm tồn tại ở dạng sợi và bào tử trên lá cây.
Biện pháp phòng chống
  • Chăm sóc bón phân cho cây sinh trưởng tốt.
  • Khi bệnh phát sinh nhiều có thể sử dụng các loại thuốc được phép sử dụng trên cây ăn quả (có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam) như: Thuốc gốc đồng; hoạt chất Mancozeb liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên nhãn.

2.2 Bệnh nấm hồng (do nấm Corticium salmonicolor)

Triệu chứng

Bệnh tạo thành những mảng nấm màu trắng, sau chuyển màu hồng ở trên cành làm lá bị héo, lâu ngày cành có thể bị khô chết.

Điều kiện phát sinh phát triển

Nấm hình thành đảm bào tử. Đảm bào tử hình trứng, đơn bào, không màu, một đầu nhọn, được tạo thành trên các đảm. Sợi nấm lúc đầu màu trắng, sau chuyển màu hồng. Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25 – 30oC. Vườn cây rậm rạp, trời âm u mưa nhiều là điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển mạnh. Nấm tồn tại và lan truyền từ các cành bị bệnh.

Biện pháp phòng chống
  • Cắt tỉa cành lá cho vườn thông thoáng, hủy bỏ các cành bệnh.
  • Dùng thuốc gốc đồng quét lên thân cây năm 01- 02 lần vào đầu và cuối mùa mưa.
  • Khi bệnh phát sinh nhiều có thể sử dụng các loại thuốc được phép sử dụng trên cây ăn quả (có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam) như: Hoạt chất Hexaconazole; hoạt chất Validamycin;… liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên nhãn.

2.3 Bệnh thối quả (do nấm Rhizopus nigricans)

Triệu chứng
  • Bệnh chủ yếu hại trên hoa, quả mít non.
  • Nấm làm hoa và quả non thối đen và rụng, trên đó sinh các sợi nấm và bào tử màu đen mọc tua tủa.
Điều kiện phát sinh phát triển
  • Nấm hình thành 02 loại bào tử là phân sinh bào tử và noãn bào tử (tiếp hợp bào tử). Phân sinh bào tử hình thành trong các bọc, hình cầu, đơn bào, màu xám tro hoặc nâu nhạt. Noãn bào tử màu đen, hình cầu, lớn hơn phân sinh bào tử, bề mặt sần sùi.
  • Sợi nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 23 – 25oC. Bào tử nảy mầm thích hợp ở 26 – 29oC. Bệnh phát triển mạnh trong mùa mưa.
Biện pháp phòng chống
  • Loại bỏ kịp thời các hoa, quả bị bệnh tập trung tiêu hủy.
  • Khi bệnh phát sinh nhiều có thể sử dụng các loại thuốc được phép sử dụng trên cây ăn quả (có trong danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam) như: Hoạt chất Cytokinin; hoạt chất Mancozeb; hoạt chất Metiram Complex;… liều lượng sử dụng theo hướng dẫn trên nhãn.

V. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN

Cây mít cho trái rải vụ quanh năm, song vụ chính ở Đồng Nai vào tháng 6, 7. Thời gian từ lúc ra hoa đến lúc trái già khoảng 05 tháng, do đó có thể căn cứ vào màu sắc trái để thu hoạch. Trái mít già, các gai nở căng, chuyển từ màu xanh sang màu xanh vàng hoặc nâu nhạt, mủ lỏng và trong, vỗ kêu bồm bộp, để vận chuyển đi xa nên thu hoạch lúc trái già.

  • Thu hoạch: Thu hoạch khi gai mít nở, lá yếm chuyển sang màu vàng, thời gian từ 9 – 15h hàng ngày. Hái nhẹ nhàng, khi hái không quăng ném, giữ không làm gãy gai hay sứt cuống mít. Sau khi hái, đặt mít nằm ngang, cuống quay xuống thấp cho mủ chảy ra.
  • Tỉa bỏ, phân loại: Loại bỏ những quả bị sâu bệnh, xấu mã, phân loại tùy theo trọng lượng, xếp thành từng lớp vào sọt có lót lá hoặc rơm dưới đáy và xung quanh thành sọt, khi xếp quay cuống quả lên trên.
  • Đóng gói: Xếp mít thành từng lớp vào sọt có lá hoặc rơm lót dưới đáy và xung quanh sọt, khi xếp quay cuống lên trên.
  • Vận chuyển: Dùng giấy hoặc lá có khổ lớn bọc xung quanh từng quả để tránh xây xát khi vận chuyển, tránh va lắc, không dùng sọt quá lớn hay quá nhỏ, phải đảm bảo mít được thông thoáng, không bị nóng khi vận chuyển.
  • Bảo quản: Để nơi khô ráo, thoáng mát, tránh mưa, nắng.
  • Cách giấm chín: Dùng lá chuối khô, hoặc giấy hay rơm lót bên dưới và xung quanh chum hoặc sọt, gói đất đèn trong giấy để dưới đáy sau đó xếp mít lên trên, dùng bao tải hoặc giấy đậy kín lại. Thời gian giấm khoảng 48 giờ.

Xem thêm: PHÂN BÓN CHUYÊN CANH CÂY MÍT – PHÂN BÓN CHO MÍT QUA TỪNG GIAI ĐOẠN

Bình luận

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.